Monday, August 16, 2010

Những cuộc di dân thời Tiền sử ở Châu Á

Lý thuyết địa đàng Phi châu cho rằng loài người tiến hóa từ giống khỉ tại châu Phi. Những cuộc di cư sau này đã đưa con người đến khắp nơi trên mặt đất. Xin dùng công trình nghiên cứu di truyền của Spencer Wells làm nền tảng cho bài viết này. Mặc dù còn rất nhiều ý kiến của các nhà nhân chủng học thế giới không đồng tình với Wells, nhưng nói chung họ chỉ thắc mắc ở thời điểm di cư.

Với kết luận của Spencer Wells, tính ra:

Cuộc di dân đầu tiên từ Phi châu diễn ra cách nay 60 ngàn năm. Đoàn người đi dọc vùng đồng bằng ven biển Nam Á, đến Đông Nam Á họ chia làm hai nhánh. Nhánh thứ nhất đến châu Úc. Nhánh thứ hai rẽ lên phía bắc, rồi dừng lại khá lâu bên bờ nam Trường Giang.
Cuộc di dân thứ hai cũng từ Phi châu cách nay 45 ngàn năm. Họ đến Trung Đông, từ Trung Đông hai phân nhóm đã hình thành tiến vào Ấn Độ và vùng tây bắc Trung Hoa.
Cuộc di dân thứ ba (không sử dụng trong bài viết này) diễn ra cách nay 40 ngàn năm, đoàn người đến Trung Á và sau đó tràn qua châu Âu.

Tại sao họ ra đi ? Tất cả các nền văn minh sơ khai đều thờ mặt trời. Những chữ viết đầu tiên của nhân loại ở khắp nơi tương đồng một cách đáng ngạc nhiên ở chữ "mặt trời": một vòng tròn có chấm chính giữa. Thần mặt trời ở Ai Cập là Ra, tại Lưỡng Hà là Samat, ở Nhật là Amaterasu O Mikami (Thiên chiếu đại thần, Thái dương thần nữ). Vua của người Trung Quốc và cả người Inca tận châu Mỹ đều tin mình là con trời hoặc con của thần mặt trời. Hình ảnh mặt trời trên trống đồng Đông Sơn thì thật ấn tượng. Về góc độ khoa học, mặt trời là nguồn sống của trái đất, là năng lượng cho tiến hóa. Đi về phía đông, di cư về phương đông chính là đến gần hơn với mẹ mặt trời. Và thật không có hình ảnh nào đẹp đẽ bằng: loài người đã đi theo ánh sáng mặt trời để phủ kín trái đất.

Tại sao cuộc di cư đầu tiên của người Tiền Đông Nam Á dừng lại bên dòng Trường Giang mà không phải xa hơn về phía bắc? Trường Giang hung dữ và quá rộng lớn, đã phần nào cản bước đoàn di dân. Thêm nữa, theo ngành thủy văn, Trường Giang dưới tác động của lực coriolis, bờ bắc lở trong khi bờ nam bồi lắng. Cư dân nông nghiệp có xu hướng chọn vùng phù sa màu mỡ định cư lâu dài. Họ chỉ tiến qua bờ bắc khi đối mặt với nạn nhân mãn, hoặc dưới các nguyên cớ khác.

Phân nhánh của đoàn di dân thứ hai tiến vào trung lưu Hoàng Hà bằng hành lang Cam Túc, xây dựng nền văn minh tạm gọi là Hoa Hạ. Ba di chỉ đồ đá có mối liên hệ rõ ràng tạo thành tam giác trung tâm của nền văn minh Hoa Hạ: Đại Địa Loan (hơn 8000 năm) nằm ở mạn phải dòng Thanh Thủy, Tần An, Cam Túc; Bán Pha (khoảng 6 ngàn năm) thuộc Tây An, Thiểm Tây; và Giả Hồ (cũng hơn 8000 năm) tại Hà Nam. Bán Pha và Giả Hồ đều về phía bờ nam Hoàng Hà. Ngoài ra trên bờ bắc Hoàng Hà tại làng Đào Tự, Tương Viên, Sơn Tây người ta vừa đào được 1 tường thành dài 130m, 4500 tuổi. Nó cho thấy hướng phát triển ban đầu của văn minh Hoa Hạ. Di vật của Hoa Hạ chứng tỏ nó không dính dáng gì đến con người của bờ nam Trường Giang, vào thời điểm đó. Kiểu hạn canh trong sản xuất nông nghiệp và quần cư tại các khu đô thị sơ khai cũng là đặc điểm riêng biệt của văn minh Hoa Hạ. Như vậy nền văn minh Hoa Hạ hình thành quốc gia Hạ sơ khai, khoảng năm 2200 TCN phần nào đã sáng tỏ. Các nhà khảo cổ cũng tin rằng lúc này chế độ mẫu hệ của văn minh Hoa Hạ dần dần được thay bằng phụ hệ. Những truyền thuyết truyền hiền, rồi truyền ngôi cho em và cuối cùng là cho con trai trưởng của dân tộc Trung Hoa ẩn chứa quá trình biến chuyển kia.

Người Việt có bị Hán hóa không?

Không biết từ bao giờ nhiều người nghĩ và nói rằng người Việt Nam là dân tộc bị Hán hóa. Tại sao vậy? Có thể vì thấy người Việt giống người Hán nên từ xa xưa ông bà ta cho rằng, mình là nước nhỏ, lại bị đô hộ hàng nghìn năm bởi một nước lớn dân đông vậy hẳn là bị Hán hóa đứt đuôi. Không gì bằng thói quen, các thế hệ Việt cứ hồn nhiên truyền nhau thế. Ðiều mê tín đó sang thế kỷ khoa học còn được một số học giả thực dân bồi đắp. Nhưng đó là quan niệm sai lầm do chưa hiểu quá trình hình thành dân tộc Việt. Một sự ngộ nhận kéo dài không chỉ của người Việt mà cả của giới sử học nước ngoài.

Nói một cách chính xác khoa học thì người Việt đã trải qua quá trình Ðông Nam Á hóa. Nhà nhân chủng học hàng đầu của Việt Nam Nguyễn Ðình Khoa tổng kết: "Thời đại Ðá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó có Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu. Sang thời Ðồng-sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa."(1)

Như vậy là, vào thời đại vua Hùng, dân cư nước ta có sự chuyển hóa mạnh từ hai loại hình Indonesien và Melanesien sang loại hình Mongoloid phương Nam hay còn gọi là loại hình Ðông Nam Á. Thời đại vua Hùng kết thúc vào năm 257 TCN nên chí ít thì quá trình Ðông Nam Á hóa hoàn tất trước thời An Dương vương. Khoa nhân chủng học dựa vào so sánh hình thái sọ người Việt cổ, đã xác nhận: Việc chuyển hóa sang nhóm loại hình Ðông Nam Á diễn ra vào thời Ðồng- sắt và rộng khắp Ðông Nam Á, từ lục địa tới hải đảo. Sau cuộc chuyển hóa, nhóm loại hình Ðông Nam Á trở nên thành phần chủ đạo trong dân cư Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa này diễn ra khắp Ðông Nam Á, cả những nước chẳng hề bị người Hán chiếm đóng dù chỉ một ngày, là bằng chứng hùng hồn phủ nhận việc người Việt bị "Hán hóa".

Tuy nhiên cho đến những năm 80 thế kỷ trước, nhân chủng học chưa xác định được nguyên nhân sự chuyển hóa này: không hiểu là do di dân hay do đồng hóa? Ðấy chính là câu hỏi thách đố khoa nhân chủng học không chỉ của Việt Nam mà cả thế giới.

Tới năm 1998 thì điều này được sáng tỏ nhờ công trình của J.Y Chu và đồng nghiệp (2) cùng công trình của Bing Su, Jin Li và nhiều người khác dựa trên công nghệ gene phát hiện ra nguồn gốc người Việt. Từ những nghiên cứu này cho ta cơ sở tìm lại sự chuyển hóa về mặt nhân chủng của người Việt diễn ra như sau:

Khoảng 3-4 vạn năm trước, ngưới Bách Việt thuộc chủng Indonesien và Melanesien có mặt khắp lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử. Khoảng thiên niên kỷ thứ III TCN, người Hán thuộc chủng Mongoloid phương Bắc sống du mục ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc vượt Hoàng Hà vào chiếm đất của người Việt. Một bộ phận dân Bách Việt chạy xuống phương Nam, còn phần lớn ở lại chung sống với quân xâm lấn. Tại đây có sự hòa huyết giữa người Hán và những người Indonesien, Melanesien tạo ra sắc dân Hán phương Nam thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á. Trải hàng ngàn năm, sau khi bình định xong lưu vực Hoàng Hà, người Hán vượt Dương Tử lấn tiếp đất của người Việt. Quá trình tranh chấp dài này cũng dẫn đến việc lai giống giữa người Mongoloid phương Nam với người Việt và chuyển hóa phần lớn người Việt sang nhóm loại hình Ðông Nam Á. Ðến cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do xung đột dữ dội với người Hán, một bộ phận lớn người Bách Việt (lúc này đã chuyển hóa thành nhóm loại hình Ðông Nam Á) tràn xuống lục địa cũng như hải đảo Ðông Nam Á. Những người này do số đông, đã lai giống với người Indonesien, Melanesien tại chỗ làm chuyển hóa đại bộ phận dân cư Ðông Nam Á cổ sang nhóm loại hình Ðông Nam Á. Sự kiện này đưa tới kết quả là vào thời đại Ðồng-sắt, chủng Mongoloid phương Nam chiếm vị trí chủ đạo trong thành phần dân cư phía Nam Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Ðông Nam Á. Yếu tố Australoid bị đẩy lùi. Chứng cứ của quá trình hóa Ðông Nam Á này ta từng bắt gặp trong những hang động thời Phùng Nguyên có xương người Indonesien, Melanesien lẫn với xương người Mongoloid phương Nam táng chung. Di chỉ khu mộ táng Mán Bạc Ninh Bình là chứng cứ thuyếtphục nhất: Các nhà khảo cổ người Việt, người Nhật và người Úc phát hiện khu mộ táng với 30 di cốt của người Australoid cùng người Mongoloid phương Nam có tuổi C14 khoảng 2000 năm TCN. Tiến sĩ M. Oxenham của Ðại học Quốc gia Úc cho rằng, những di cốt trên ở vào thời kỳ chuyển hóa của người Việt cổ thành nhóm loại hình Ðông Nam Á. Ðó là quá trình người Việt chủng Mongoloid phương Nam từ lưu vực sông Dương Tử trở về lai giống với người Việt thuộc chủng Australoid, làm phai nhạt yếu tố Australoid trong cộng đồng dân cư Ðông Nam Á mới.(3) Tới đây, điều nghi ngờ của giáo sư Nguyễn Ðình Khoa được minh định: Việc chuyển hóa về nhân chủng của cư dân Ðông Nam Á từ Australoid sang Mongoloid vừa do di dân vừa do đồng hóa.

Như vậy, có thể kết luận: việc chuyển hóa đại bộ phận dân cư nước ta sang nhóm loại hình Ðông Nam Á là do khối người Việt từ phía nam Trung Quốc di cư trở về lai giống với người Việt tại chỗ. Việc này cơ bản hoàn tất khoảng 2000 năm TCN.

Cả bằng chứng khảo cổ cả bằng chứng di truyền học cho thấy, từ 2000 năm trước thời Bắc thuộc, người Hán ở phía nam Trung Quốc đã có cùng bộ gene di truyền với người Việt. Ðến thời Bắc thuộc, những người Hán sang ta- chủ yếu là người Việt Ðông, Việt Tây và Nam Việt trước- thực chất họ là người Trung Quốc gốc Việt. Vì vậy không hề có chuyện người Việt bị Hán hóa vào thời Bắc thuộc. Nói người Việt bị "Hán hóa" là sự ngộ nhận vì không khoa học và không đúng với thực tế lịch sử. Trong lịch sử chỉ có quá trình Ðông Nam Á hóa chung cho cả người Hán và người Việt, diễn ra từ thiên niên kỷ thứ III đến thiên niên kỷ thứ II Trước Công nguyên. Nói một cách chính xác khoa học thì người Việt có chỉ số đa dạng sinh học cao hơn người Hán. Điều này cho thấy người Việt có tuổi sinh học cao hơn người Hán. (4)

Bản đồ trên đây lấy từ Nhân chủng học Ðông Nam Á. Thuật ngữ Nam Á trong chú thích được hiểu là nhóm loại hình Ðông Nam Á. Tiếp đó là sơ đồ quá trình hình thành dân cư Ðông Nam Á do tác giả phác thảo.
_______________________

Tài liệu tham khảo:
(1): Nhân chủng học Ðông Nam Á. NXB Ðại học& Trung học chuyên nghiệp. H.1983
(2): Genetic relation of population in China (Proc. Natl. Acad.Sci. USA 1998 số 95 tr.11763-11768)
(3): Lê Anh Vũ - Tin BBC hay tin Oxenham? Talawas 3.3.2005.
(4): S.W. Ballinger&đồng nghiệp: Human mitochondrial DNAs (mtDNAs) from 153 independent samples encompassing seven Asian populations were surveyed for sequence variation. The greatest mtDNA diversity and the highest frequency of mtDNAs with HpaI/HincII morph 1 were observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians. (Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45).